Nhà Nước Cần Có Giải Pháp Kịp Thời Cứu Ngành Sản Xuất Giấy Trong Nước


Ngành giấy Việt Nam luôn thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ và các cơ quan nhà nước trong quá trình phát triển, đảm bảo tiêu dùng trong nước. Tốc độ phát triển của ngành theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp chung của cả nước, nhiều năm qua đạt 17%/năm. Cũng nhiều năm qua, nhu cầu cơ bản giấy cho học sinh, giáo dục, văn hóa, bao bì cho xuất khẩu và các nhu cầu khác đều được ngành giấy trong nước đảm bảo.

Năm 2008, dù gặp rất nhiều khó khăn, các doanh nghiệp giấy trong nước, nòng cốt là Tổng Công ty Giấy Việt Nam, Công ty CP Tập đoàn Tân Mai đã thực hiện việc kiềm chế giá bán trong suốt nửa đầu năm, dù giá bán giấy sản xuất trong nước thấp hơn giấy nhập khẩu 2 – 3 triệu đồng/tấn. Mặt khác cũng ở thời điểm đó, ngành giấy cũng chủ động đề nghị giảm thuế nhập khẩu giấy in viết và giấy in báo xuất xứ từ các nước ASEAN 5% để hỗ trợ người tiêu dùng.

Từ giữa năm 2008 trở lại đây, khủng hoảng kinh tế thế giới ngày càng trầm trọng. Nhiều nhà máy bột giấy và giấy trên thế giới đóng cửa. Giá bột giấy và giá giấy giảm nhanh và liên tục. Lượng bột và giấy tồn kho ở đỉnh cao.

Ở Việt Nam, sau khi đạt đỉnh cao trong (tháng 7/2008), sản xuất giấy trong nước giảm sút nhanh chóng. So với tháng 7/2008, sản xuất giấy của các tháng 8 – 11 lần lượt là 90%, 69%, 55% và 31%. Dự báo sản xuất tháng 12 chỉ bằng 26% so với tháng 7/2008. Như vậy sản xuất tháng 12/2008 chỉ bằng 25% khả năng sản xuất, tương ứng với 22.500 lao động không có việc làm. Tuy sản xuất giảm rất nhanh, nhưng lượng tồn kho giấy sản xuất trong nước lại tăng nhanh từ 2.000 tấn (8/2008) nay đã lên tới 140.000 tấn (11/2008 – bằng 3 lần lượng sản xuất trong cùng tháng 11/2008). Nhiều nhà máy đã đóng cửa, nhiều nhà máy sẽ đóng cửa tạm thời hoặc vĩnh viến. Tổng Công ty Giấy Việt Nam và Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Mai sẽ đóng cửa để bảo dưỡng sớm hơn lịch xích để tránh thời điểm xấu này.

So sánh tương đối, trong khi sản xuất trong nước sụt giảm, thì nhập khẩu giấy tăng mạnh. Tỉ lệ giấy in báo nhập khẩu so với giấy sản xuất trong nước từ tháng 7 đên tháng 11/2008 lần lượt là 25%, 42%, 47%, 56% và 75% và tháng 12 dự báo là 86%.

Xuất khẩu giấy từ 12.000 – 15.000 tấn/tháng, nay chỉ còn 1.000 tấn/tháng.

Tiêu dùng giấy năm 2008 dự báo đạt gần 2 triệu tấn, tăng 5% so với tiêu dùng giấy năm 2007 (những năm trước 15-16%, tức gấp 2 lần tốc độ tăng GDP). Những năm trước đây tỉ lệ giữa sản xuất giấy ở trong nước và giấy nhập khầu là 63/37, nay do nhập khẩu tăng, sản xuất giảm nên tỉ lệ này trong năm 2008 sẽ là 50/50.

Hầu hết các dự án đầu tư sản xuất bột giấy và giấy đã tuyên bố dừng, nhưng không cho biết thời gian khởi động lại, trừ dự án Nhà máy Bột giấy An Hòa và Nhà máy Giấy Kraft Vina (Thái Lan) vẫn triển khai nhưng sẽ không hoàn thành đúng kế hoạch.

Dự kiến, năm 2009 sản xuất giấy trong nước tiếp tục giảm sút, nhập khẩu giấy sẽ lấn át sản xuất trong nước. Ở thời điểm này các chuyên gia phân tích không đủ dũng cảm đưa ra dự báo. Nhưng chắc chắn tình hình sẽ không thể sáng sủa hơn, nếu không có giải pháp. Nguy cơ sụp đổ một ngành sản xuất là rất lớn.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình hình trên là do xuất khẩu giảm, doanh nghiệp, dân chúng kiềm chế chi tiêu và do chính sách thuế nhập khẩu giấy vừa qua thể hiện trong 2 quyết định của Bộ Tài chính: Quyết định số 71/2008/QĐ-BTC ngày 01/09/2008 và Quyết định số 73 ngày 5/9/2009.

Ngày 13/08/2008 khi được Bộ Tài chính hỏi về thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng giấy đã có văn bản đề nghị Bộ Tài chính giữ nguyên lộ trình thực hiện việc cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi.

Ngày 10/09/2008, qua TTXVN, Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam đã tỏ rõ ý kiến không đồng tình về việc sớm rút ngắn lộ trình giảm thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng giấy.

Ngày 18/09/2009 Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam đã có công văn báo cáo Bộ Công Thương, Bộ Tài chính kiên quyết đề nghị giữ nguyên lộ trình cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với các mặt hàng giấy.

Ngày 13/10/2008, Hiệp hội đã có công văn nêu ý kiến của Hiệp hội về thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (WTO) giữ nguyên ý kiến về việc giữ đúng lộ trình.

Từ khi có quyết đình về thuế nhập khẩu giấy như đã nói trên, giấy từ Trung Quốc (nơi có lượng giấy tồn đọng lớn nhất thế giới) đã vào Việt Nam qua hai ngả thẳng từ Trung Quốc và từ các cơ sở sản xuất ở các nước ASEAN, giấy từ các nước khác, thậm chí từ Ý xa xôi cũng tràn sang Việt Nam bán với giá người mua định đoạt.

Để đảm bảo cân bằng lợi ích và công bằng Hiệp hội kiến nghị Chính phủ và các Bộ như sau:

VỀ THUẾ

1. Tăng thuế nhập khẩu giấy in viết từ 0 lên 5% và giấy in báo từ 3% lên 5% đối với các loại giấy in viết và giấy in báo xuất xứ từ các nước ASEAN (Quyết định 73/2008/QĐ-BTC ngày 05/09/2009)

2. Đề nghị điều chỉnh lại toàn bộ mã hàng trong Quyết định số 71/2008/QĐ-BTC với mức thuế suất nhập khẩu chỉ giảm so với thuế suất nhập khẩu theo Quyết định số 106/2007/QĐ-BTC là 1-3% áp dụng trong 2009 theo đúng các nguyên tắc mà Bộ Tài chính nêu ra.

3. Cũng theo nguyên tắc trên, các mặt hàng giấy khác điều chỉnh giảm 1-3% theo đúng lộ trình đã cam kết so với thuế suất nhập khẩu theo Quyết định số 106/2007/QĐ-BTC.

(Theo Quyết định 71: thuế suất thuế nhập khẩu giấy in báo giảm từ 32% xuống 20% và giấy in & viết giảm từ 32% xuống 25%.)

4. Giảm thuế GTGT đối với bột giấy và giấy các loại từ 10% xuống 5%, riêng giấy in báo từ 5% xuống 0%.

5. Áp dụng thuế GTGT là 0% đối với giấy loại thu gom trong nước và có chính sách khuyến khích thu gom giấy và tái chế giấy.

VỀ MÔI TRƯỜNG:

Đề nghị các chỉ số về môi trường như sau:

TT

Thông số

Đơn vị

A

B

B1

B2

1

BOD5 ở 200C

mg/l

100

150

200

2

COD

mg/l

300 (250)

400 (350)

450 (400)

3

Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)

mg/l

100

200

200

4

Độ màu

Pt-Co

500

5000

500

5

Halogen hữu cơ dễ bị hấp thụ (AOX)

mg/l

10

20

20

VỀ THAN:

1. Áp dụng giá than cho hộ giấy đối với tất cả các doanh nghiệp sản xuất bột giấy và giấy được ngày nào hay ngày ấy để hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất giấy trong giai đoạn khó khăn này.

2. Áp dụng giá bán than cho sản xuất điện đối với Giấy Bãi Bằng vì tại đó có nhà máy điện đang phát điện tự dùng và bán lên lưới quốc gia với công suất 28 MW.

3. Lùi thời điểm tăng giá than sang quý II/2009.

VPPA


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s