Các tính chất của giấy in


Giấy in cần có các tính chất quang học nào?

Vai trò đặc biệt trong cấu trúc tính chất in của giấy là các tính chất quang học, nghĩa là độ trắng, độ đục và độ bóng.

Độ sáng quang học là gì?

Độ sáng quang học là khả năng của giấy phản xạ ánh sáng với độ tán xạ đồng đều trong tất cả mọi hướng. Độ sáng quang học cao đối với giấy in là vô cùng cần thiết, bởi vì độ rõ nét của bản in phụ thuộc rất lớn vào sự tiếp xúc giữa bề mặt giấy và khuôn in.

Khi in nhiều màu, độ chính xác về màu sắc của hình ảnh và sự trùng khớp với bản gốc chỉ có thể đạt được khi in trên tờ giấy có đủ độ trắng cần thiết. Để tăng độ sáng quang học, để sản xuất các loại giấy đắt tiền chất lượng cao, người ta bổ sung các tác nhân gọi là tác nhân tẩy trắng quang học – luminôfooc và các loại phẩm ánh tím và ánh xanh sẽ ngăn ngừa tông màu vàng do xơ sợi mang lại. Giải pháp công này còn gọi là lơ màu. Ví dụ, giấy tráng phấn không có chất tăng trắng quang học có độ sáng quang học không nhỏ hơn 76%, còn loại giấy có chất tăng trắng quang học có độ sáng quang học không nhỏ hơn 84%. Tính chất in của loại giấy có chứa bột cơ học cần có độ sáng quang học không nhỏ hơn 72 %, còn độ sáng quang học của giấy in báo thông thường chỉ đạt giá trị trung bình 65%.

Một trong những tính chất thực tiễn rất quan trọng của giấy in đó là độ đục. Độ đục của giấy in đặc biệt quan trọng khi in 2 mặt. Để tăng độ đục thông thường lựa chọn thành phân xơ sợi có chứa chất độn.

Độ bóng cũng là một trong những tính chất quang học quan trọng. Độ bóng là kết quả phản xạ ánh gương của ánh sáng rọi lên bề mặt giấy. Và do đó tính chất này phụ thuộc vào bề mặt vi hình học của giấy. Thông thường với sự gia tăng độ nhẵn bề mặt của giấy, độ bóng cũng tăng lên. Tuy nhiên, mối liên hệ này không phải bao giờ cũng đồng nhất. Cần phải lưu ý rằng, độ nhẵn được xác định bằng phương pháp cơ học, cò độ bóng-là tính chat quang học. Độ bóng của giấy trong có thể đạt 75-80%, còn giấy mờ chỉ đạt khoảng 30%.

Phần lớn người tiêu dung các sản phẩm in ấn thường thích các loại giấy có độ bóng cao. Tuy nhiên, kkhông phải bao giờ độ bóng cũng cần thiết với bản in. Ví dụ, khi in ấn các loại văn bản bằng chữ hoặc các sản phẩm in sơ đồng, người ta sử dụng loại giấy in có độ bóng tối thiểu, như loại giấy có độ nhẵn sau khi xeo trên máy chẳng hạn, không cần đến một sự gia công hay xử lý bề mặt nào. Còn các loại giấy in nhãn mác hàng hoá, giấy in các loại tranh ành cần có một độ bóng rất cao.

Với giấy in, các tính chất cơ học nào là quang trọng nhất?

Một nhóm tính chất khác của giấy in- đó là các tính chất cơ học. Các  tính chất cơ học này có thể phân ra thành tính chất bềntính chất biến dạng. Tính chất biến dạng xuất hiện khi có một lực ngoại lai tác động lên giấy và được đặc trưng bởi sự thay đổi tạm thời hay sự thay đổi vĩnh viễn hình dạng hoặc thể tích của vật thể. Các quy trình công nghệ chủ yếu khi thực hiện một sản phẩm in bao giờ cũng kéo theo sự biến dạng cơ bản của giấy, ví dụ: độ căng, độ nén và độ gấp. Giấy sẽ chịu ảnh hưởng như thế nào đối với các tách động đó phụ thuộc vào việc các quá trình công nghệ in ấn và quá trình xử lý các sản phẩm in ấn tiếp theo có xảy ra lien tục hay không. Khi in ấn với áp lực cao và khuôn in cứng, giấy cần phải có độ mềm mại cao, nghĩa là dễ nén, dễ tiếp xúc hoàn toàn với khuôn in.

Độ mềm mại:

Độ mềm mại của giấy liên quan đến cấu trúc của nó, nghĩa là liên quan đến độ chặt và độ rỗng. Loại giấy rỗng như giấy in báo có thể bị biến dạng khi né đến 28%, còn đối với giấy tráng phấn có độ chặt lớn, mức độ biến dạng không vượt quá 6-8%. Đối với giấy in chất lượng cao sự biến dạng phải gần như bằng 0, để sau khi “dỡ bỏ” tải trọng, giấy trở về trạng thái hình dạng ban đầu. Nếu khác đi, trên bản in sẽ hiện rất rõ vết của hình dập, chứng tỏ đã xảy ra những sự biến đổi nghiêm trọng trong cấu trúc của tờ giấy. Nếu giấy được dung cho công nghệ in dập thì mục tiêu sẽ là ngược lại, nghĩa là giấy cần có một độ biến dạng dư, còn các chỉ số chất lượng của giấy phải không thay đổi, để có được sự bền vững của hình dập của quá trình in dập.

Đối với giấy in offset trên máy in liên tục tốc độ cao thì quan trọng nhất là các tính chất về độ bền của giấy. Cụ thể là: độ bền đứt, độ bền gấp, độ chống bốc bụi và độ bền ướt. Độ bền của giấy không chỉ phụ thuộc vào độ bền của từng thành phần cấu tử riêng biệt mà còn phụ thuộc vào độ bền cấu trúc của bản than tờ giấy. Cấu trúc này hình thành trong quá trình sản xuất giấy. Tính chất này thường được đặc trưng bởi chiều dài đứt biểu thị bằng mét (hoặc km) hoặc bởi lực kéo đứt (N). Ví dụ đối với giấy in tipô loại mềm, chiều dài đứt không nhỏ hơn 2.500 m, còn đối với giấy in offset loại đanh cứng, chiều dài đứt đạt 3.500 mét trở lên.

Giấy dùng cho quá trình in phẳng cần có độ biến dạng tối thiểu khi làm ẩm, vì theo điều kiện của công nghệ in, giấy phải tiếp xúc với cá bể mặt ẩm của khuôn in. Giấy là một loại vật liệu có tính hút nước. Khi tăng độ ẩm của giấy, xơ sợi trương nở và rộg ra chủ yếu theo đường kính, giấy biến dạng, cong vênh, nhăn dạng song và khi sấy khô thì xảy ra các quá trình ngược lại, giấy co lại và kết quả là giấy sẽ bị thay đổi kích thước. Khi độ ẩm của giấy thay đổi, độ bền cơ học của giấy giảm mạnh, đặc biệt là độ kéo đứt, giấy không chịu được máy in tốc độ cao và sẽ bị đứt. Sự thay đổi độ ẩm của giấy trong quá trình in nhiều màu sẽ dẫn đến sẹ không trùng khớp các mảng màu và phá vỡ sự truyền màu từ khuôn sang bề mặt giấy.

Để tăng độ bền nước của giấy in, trong thành phần bột giấy khi sản xuất giấy in được bổ sung them các tác nhân kỵ nước (quá trình này được gọi là quá trình gia keo nội bộ hoặc là gia keo trực tiếp) hoặc là các chất gia keo được đưa lên bề mặt giấy sau khi đã hình thành và được sấy khô (quá trình này được gọi là quá trình gia keo bề mặt). Giấy in offset thường có độ gia keo cao, đặc biệt là các loại giấy in offset mà khi sử dụng chịu những tác động mạnh của điều kiện khí hậu hoặc loại giấy sử dụg cho công nghệ in nhiều màu, ví dụ giấy in bản đồ.

Tính chất hấp thụ của giấy in

Một trong những tính chất quan trọng của giấy in là khả năng hút nước. Xác định đúng khả năng hút nước của giấy đồng nghĩa với việc thực hiện điều kiện một cách đúng lúc và hoàn toàn sự dính kết của mực in, kết quả là thu nhận được một bản in chất lượng tốt.

Khả năng hút nước của giấy trước tiên phụ thuộc và cấu trúc của giấy, bởi quá trình tương tác giữa giấy và mực in về nguyên tắc là rất khác nhau. Trước hết cần phải nó về các điểm đặc biệt của sự tương tác này trong trường hợp này hay trường hợp khác và cần phải nhớ lại một cách rõ rang các loại cơ bản về cấu trúc của các loại giấy in công nghệ hiện đại. Nếu biểu thị cấu trúc của giấy dưới dạng một thước đo thì điểm vạch đầu tiên bên trái của thước là loại giấy rỗng macro (thể tích mao mạch lớn), mà phần lớn có thành phần xơ sợi là bột cơ học, ví dụ giấy in báo. Phía tận cùng đầu ngược lại là loại giấy rỗng dạng micro có thành phần xơ sợi từ 100% bột hoá, ví dụ giấy tráng phấn. Tiếp theo phía bên trái của đầu này là giấy không tráng phấn từ 100% bột hoá cũng thuộc dạng micro (thể tích mao mạch nhỏ). Các vị trí trung gian còn lại là các loại giấy khác.

TTCNG

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s